Keep on reading

Người Sao Hỏa (The Martian) by Andy Weir (26) —Hết

Người Sao Hỏa

Tác giả: Andy Weir
Người dịch: conruoinho

Thể loại: Khoa học viễn tưởng (scifi)

Truyện dịch chưa được sự đồng ý của tác giả.
Truyện dịch từ bản Advance Read nên có thể không giống hoàn toàn với bản xuất bản.

martianedit_464

Mục Lục

1 – 2 3 456 – 789101112 – 13 1415161718 – 1920212223242526


 (26)

 

Người ta tụ họp.

Ở khắp mọi nơi trên Trái Đất, người ta tụ họp.

Từ Quảng trường Trafalgar cho đến Thiên An Môn cho đến Quảng trường Times, họ chăm chú nhìn màn hình khổng lồ. Trong văn phòng, mọi người túm tụm lại trước màn hình máy tính. Trong những quán ba, họ im lặng xem TV trong góc phòng. Ở nhà, họ ngồi trên sô pha nín thở, mắt họ dán kín vào chương trình đang chiếu.

Ở Chicago, một cặp vợ chồng vừa ngồi xem, tay họ nắm chặt nhau. Người đàn ông dịu dàng ôm vợi mình khi bà rung rẩy vì hoảng sợ. Đại diện của NASA biết không nên làm phiền, nhưng chờ sẵn sàng để trả lời bất cứ câu hỏi nào của họ.

“Đèn áp suất nhiên liệu xanh,” tiếng Johanssen vang ra từ cả tỷ màn hình TV. “Động cơ thẳng hàng. Hệ thống liên lạc đạt chuẩn 5 x 5 [1].  Chúng ta đã sẵn sàng để chạy danh sách kiểm trước khi bay, thưa Chỉ huy.”

“Đã rõ,” giọng Lewis vọng lại. “CAPCOM.”

“Được,” Johanssen đáp.

“Hướng dẫn.”

“Được,” Johanssen đáp lại lần nữa.

“Lệnh điều khiển từ xa.”

“Được,” Martinez nói.

“Phi công.”

“Được,” Watney nói từ MAV.

Tiếng hân hoan êm dịu thấp thoáng lấp lánh trong những đám đông khắp nơi.

 

***

 

Mitch ngồi ở trạm của mình trong khu Điều hành Phi Vụ. Họ theo dõi tất cả mọi thứ và đã sẵn sàng giúp đỡ trong mọi khả năng. Thời gian liên lạc giữa Hermes và Trái Đất khiến những nhu cầu này chẳng có cơ hội xảy ra.

“Tọa độ từ xa,” giọng Lewis vang lên từ loa.

“Được,” Johanssen trả lời.

“Đội Khôi phục,” cô tiếp tục.

“Được,” Beck vọng ra từ cửa khóa khí.

“Đội Khôi phục dự bị.”

“Được,” Vogel nói từ đằng sau Beck.

“Điều hành Phi vụ, đây là Hermes Hiện tại,” Lewis báo cáo. “Chúng tôi trong tình trạng sẵn sàng để phóng và sẽ tiến hành theo kế hoạch. Thời gian của chúng tôi còn bốn phút mười giây đến giờ phóng tàu.”

“Anh nghe kịp chưa, Người Ghi giờ?” Mitch hỏi.

“Xác định, Phi vụ,” tiếng trả lời vọng về. “Đồng hồ của chúng ta đã đồng bộ với họ.”

“Thật ra chúng ta cũng chẳng thể làm gì,” Mitch lầm bầm. “Nhưng ít ra chúng ta sẽ biết điều gì đang xảy ra trong thời điểm ấy.”

 

***

 

“Mark, còn chừng bốn phút,” Lewis nói và micrô. “Anh dưới đó thế nào rồi?”

“Rất háo hức muốn bay lên, thưa Chỉ huy,” Watney trả lời.

“Chúng ta sẽ biến điều đó thành hiện thực,” Lewis nói. “Nhớ là, anh sẽ kéo theo trọng lực rất cao đấy. Nếu có bất tỉnh cũng được. Martinez sẽ lo cho anh.”

“Nói thằng quỷ đó đừng có mà lăn tôi như lăn thùng phuy nhá.”

“Đã rõ, MAV,” Lewis nói.

“Còn bốn phút,” Martinez nói, bẻ bẻ khớp ngón tay mình. “Sẵn sàng bay vài vòng chưa, Beth?”

“Rồi,” Johanssen nói. “Điều khiển hệ thống cho một vụ phóng và ở trong tình trạng không trọng lực suốt thời gian đó sẽ kì quái lắm nha.”

“Tôi chưa nghĩ về nó như vậy,” Martinez nói, “nhưng cũng đúng. Tôi sẽ không bị dán chặt vào ghế của mình. Quái thật.”

 

***

 

Beck bay lơ lửng bên trong cửa khóa khí, thân người anh được buộc vào sợi dây nối với cuộn dây gắn vào tường. Vogel đứng cạnh bên anh, đôi bốt của anh kẹp chặt vào sàn. Cả hai nhìn đăm đăm ra ngoài cánh cửa mở rộng về hướng hành tinh đỏ rực bên dưới.

“Tôi chẳng nghĩ mình sẽ quay lại nơi này,” Beck nói.

“Ừ,” Vogel nói. “Chúng ta là những người đầu tiên.”

“Đầu tiên chuyện gì?”

“Đầu tiên đã đến sao Hỏa hai lần.”

“À đúng. Ngay cả Watney cũng không thể khoe khoang điều đó.”

Họ nhìn về hướng sao Hỏa trong im lặng một hồi lâu.

“Vogel,” Beck nói.

“Ja.”

“Nếu tôi không vươn tới chỗ Mark được, tôi muốn anh tháo dây buộc của tôi ra.”

“Bác sĩ Beck,” Vogel nói, “Chỉ huy đã ra lệnh không được làm việc này.”

“Tôi biết Chỉ huy đã nói gì, nhưng nếu tôi cần thêm chỉ vài mét thôi, tôi muốn ăn cắt dây cho tôi. Tôi có máy MMU[2], tôi có thể bay trở lại dù không có dây buộc.”

“Tôi sẽ không làm thế đâu, Bác sĩ Beck.”

“Tôi đang liều mạng mình mà, và tôi nói làm vậy được là được.”

“Anh không phải là Chỉ huy.”

Beck cau có nhìn Vogel, nhưng với tấm che phản chiếu đã chắn lại khuôn mặt, cái nhìn ấy chẳng có tác dụng gì.

“Được thôi,” Beck nói. “Nhưng tôi đoan chắc anh sẽ thay đổi quyết định trong tình huống khẩn cấp.”

Vogel không trả lời tiếng nào.

 

***

 

“Còn 10 giây,” Johanssen nói, “9… 8…”

“Động cơ chính khởi động,” Martinez nói.

“7… 6… 5… mở kẹp…”

“Còn chừng 5 giây, Watney,” Lewis nói vào điện đàm. “Giữ chặt.”

“Lát gặp nhé, Chỉ huy,” Watney nói lại vào radio.

“4… 3… 2… “

 

***

 

Watney nằm dựa vào ghế tăng tốc trong khi MAV kêu ầm ầm chuẩn bị phóng.

“Hừm,” anh nói một mình. “Tôi đang tự hỏi còn bao lâu nữa…”

MAV bay vút lên với một lực mạnh phi thường. Hơn hẳn bất cứ con tàu có người lái nào từng tăng tốc trong lịch sử du hành không gian. Watney bị ném mạnh vào ghế mình đến nỗi anh chẳng kịp càu nhàu.

Anh đã dự trù việc này nên đã đặt một chiếc áo được xếp lại ở đằng sau đầu mình trong mũ bảo hiểm. Khi đầu anh bị ấn chặt vào chiếc nệm tự chế, những góc cạnh trong tầm nhìn của anh cũng dần mờ đi. Anh không thể thở cũng chẳng thể nhúc nhích.

Trực diện trong tầm nhìn của anh, vải bạt căn Hab đập phình phịch dữ dội khi con tàu tăng tốc mỗi lúc một nhanh hơn gấp bội lần. Tuy anh dần không còn khả năng tập trung được nữa, nhưng điều gì đó trong trực giác cho anh biết coi bộ không ổn rồi.

 

***

 

“Vận tốc hiện tại 741 mét/giây,” Johanssen vội gọi lớn. “Độ cao 1350 mét.”

“Đã rõ,” Martinez nói.

“Sao thấy vậy,” Lewis nói. “Thấp quá.”

“Tôi biết,” Martinez nói. “Nó rề rề ấy, cứ phản kháng lại tôi. Cái mẹ gì đang xảy ra thế này?”

“Vận tốc 850, độ cao 1843,” Johanssen nói.

“Tôi không có đủ nguồn lực tôi cần,” Martinez nói.

“Hiệu suất các động cơ đều ở mức 100 %,” Johanssen nói.

“Tôi nói cô biết nó đang rề rề đấy,” Martinez khăng khăng.

“Watney,” Lewis nói vào điện đàm. “Watney, anh có nghe không? Anh có thể báo cáo không?”

 

***

 

Watney nghe tiếng Lewis vang lên từ xa xăm. Như ai đó đang nói chuyện với anh qua một đường hầm dài. Anh mơ màng thầm nghĩ không biết cô ấy muốn cái gì. Anh chuyển sự chú ý của mình vào tấm vải bạt đang phập phồng phía trên trong chốc lát. Vết rách hình như càng lúc toạc ra càng nhanh.

Nhưng rồi anh bị xao lãng bởi một con ốc trên một trong những vách ngăn. Nó chỉ có năm cạnh. Anh tự hỏi sao NASA lại quyết định cần con ốc năm cạnh thay vì sáu. Muốn khóa nó hay mở nó đều cần một cái chì vặn đặc biệt.

Vải bạc kéo rẹt một đường càng dài hơn, phần vài rách bay phần phật điên cuồng. Từ chỗ hở ra ấy, Watney nhìn thấy bầu trời đỏ kéo dài đến vô tận. “Đẹp thật,” anh nghĩ.

MAV bay càng cao, bầu khí quyển càng mỏng dần. Rồi tấm vải bạt cũng ngưng đập cánh và chỉ giăng căng ra về hướng Mark. Bầu trời chuyển từ màu đỏ sang đen.

“Cái có cũng đẹp nữa,” Mark nghĩ.

Dần dần chìm vào trong vô thức, anh tự nghĩ mình có thể tìm đâu ra con ốc năm cạnh hay như thế.

 

***

 

“Tôi nhận được nhiều phản ứng hơn rồi,” Martinez nói.

“Trở về đúng tình trạng tăng tốc hoàn toàn,” Johanssen nói. “Hẳn là do lực cản. Giờ MAV đã ra khỏi khí quyển rồi.”

“Nó đi như bò bay ấy,” Martinez rủa ra ra, tay anh lướt vội qua những cần điều khiển.

“Anh đưa cậu ta lên được không?” Lewis hỏi.

“Anh ấy sẽ vào quỹ đạo,” Johanssen nói, “nhưng đường đến giao điểm có thể bị ảnh hưởng rồi.”

“Đưa cậu ta lên trước đi,” Lewis nói. “Rồi chúng ta lo chuyện giao điểm sau.”

“Đã rõ. Động cơ chính sẽ tắt trong vòng 15 giây.”

“Đi êm hơn nhiều rồi,” Martinez nói. “Nó không phản kháng lại tôi nữa.”

“Thấp hơn nhiều so với độ cao mục tiêu,” Johanssen nói. “Vận tốc tốt.”
“Thấp hơn bao nhiêu?” Lewis hỏi.

“Không thể nói chắc chắn,” Johanssen nói. “Em chỉ có dữ liệu từ gia tốc kế. Chúng ta cần ping từ radio theo từng cự ly để tính ra khoảng cách quỹ đạo cuối cùng của anh ấy.”

“Trở về hướng dẫn tự động,” Martinez nói.

“Động cơ chính tắt trong vòng 4 giây,” Johanssen nói, “3… 2… 1… Tắt hoàn toàn.”

“Xác định đã tắt,” Martinez nói.

“Watney, anh có đó không?” Lewis hỏi. “Watney? Watney, anh có nghe không?”

“Chắc xỉu mất rồi, Chỉ huy à,” Beck nói qua radio. “Anh ấy chịu lực hút 12 g trong quá trình bay lên. Cho anh ấy thêm vài phút đi.”

“Đã rõ,” Lewis nói. “Johanssen, có được quỹ đạo của cậu ta chưa?”

“Em đã có ping theo từng cự ly. Đang tính toán phạm vi của giao điểm và vận tốc…”

Martinez và Lewis căng thẳng nhìn chằm chằm về phía Johanssen trong khi cô bật lên phần mềm tính giao điểm trên màn hình. Bình thường, những tính toán quỹ đạo là nhiệm vụ của Vogel, nhưng lúc này anh ta đang bận. Johanssen là người tính động lực quỹ đạo dự bị của anh.

“Vận tốc giao điểm sẽ là 11 mét/giây…” cô bắt đầu nói.

“Tôi có thể đón anh ấy được với vận tốc đó,” Beck nói qua radio.

“Khoảng cách của giao điểm sẽ là…” Cô ngưng lại, giọng nghẹn đi. Rồi cô rung rẩy nói tiếp. “Chúng ta sẽ cách chỗ anh ấy 68 kilômét.” Hai tay cô che lấy mặt mình.

“Cô ấy mới nói 68 kilômét!?” Beck hỏi. “Kilômét!?”

“Mẹ kiếp nó,” Martinez lầm bầm.

“Giữ bình tĩnh nào,” Lewis nói. “Cùng giải quyết vấn đề. Martinez, trong MAV còn nhiên liệu không?”

“Không, thưa Chỉ huy,” Martinez đáp. “Hệ thống OMS đã được bỏ ra để làm nhẹ trọng lượng cất cánh.”

“Vậy chúng ta phải đi đến chỗ cậu ta. Johanssen, thời gian đến khu vực giao điểm?”’

“39 phút, 12 giây,” Johanssen nói, cố không giọng mình nấc lên.

“Vogel,” Lewis tiếp tục, “chúng ta có thể đi chệch hướng bao xa trong vòng 39 phút với động cơ ion?”

“Có lẽ 5 kilômét,” anh nói.

“Không đủ,” Lewis nói. “Martinez, nếu chúng ta chỉa tất cả động cơ phản lực điều chỉnh định hướng về cùng một hướng thì sao?”

“Tùy theo lượng nhiên liệu chúng ta muốn để dành cho chuyến đi về.”

“Anh cần bao nhiêu?”

“Tôi có thể cầm cự với 20% của lượng nhiên liệu còn lại.”

“Được rồi, nếu anh dùng 80% kia…”

“Đang kiểm tra,” Martinez nói, tính toán những con số trên bảng điều khiển của mình. “Chúng ta sẽ có vận tốc chênh lệch ở mức 31 mét/giây.”

“Johanssen,” Lewis nói. “Làm toán đi.”

“Trong 39 phút, chúng ta sẽ đi chệch được…” Cô nhanh tay đánh máy, “72 kilômét!”

“Được đấy,” Lewis nói. “Còn bao nhiêu nhiên liệu…”

“Dùng 75.5 % lượng nhiên liệu điều chỉnh định hướng còn lại.” Johanssen nói. “Sẽ đưa phạm vi giao điểm xuống còn zero.”

“Làm đi,” Lewis nói.

“Vâng, Chỉ huy.” Martinez đáp.

“Khoan đã,” Johanssen nói. “Phạm vi giao điểm là zero, nhưng vận tốc giao điểm sẽ là 42 mét/giây.”

“Vậy chúng ta còn 39 phút để nghĩ ra làm thế nào để đi chậm lại,” Lewis nói. “Martinez, khởi động đi.”

“Vâng,” Martinez nói.

 

***

 

“Ôi,” Annie nói với Venkat. “Quá nhiều chuyện xảy ra quá nhanh. Giải thích đi.”

Venkat dỏng tai cố lắng nghe tiếng từ trong loa đang bị át bởi tiếng rì rầm của các vị VIP trong buồng quan sát. Qua khung cửa kính ông nhìn thấy Mitch giơ tay lên trời biểu lộ tâm trạng bực dọc.

“Vụ phóng bị lỡ một cách thảm hại,” Venkat nói, nhìn về những màn hình phía sau Mitch. “Khoảng cách giao điểm quá lớn. Họ phải dùng hệ thống điều chỉnh định hướng để rút lại khỏang cách.”

“Hệ thống điều chỉnh định hướng thường dùng để làm gì?”

“Chúng xoay con tàu. Chúng không phải được tạo ra để đẩy con tàu đi. Hermes không có động cơ nào có phản ứng nhanh cả. Chỉ có những động cơ ion chậm và đi đều đặn thôi.”

“Vậy… vấn đề đã được giải quyết?” Annie nói trong hy vọng.

“Không,” Venkat nói. “Họ sẽ đến chỗ cậu ấy, nhưng họ sẽ đi với vận tốc 42 mét/giây khi đến đó.”

“Vậy là nhanh bao nhiêu?” Annie hỏi.

“Khoảng 144 km/giờ,” Venkat nói. “Với vận tốc đó thì chẳng có tia hy vọng nào vào khả năng Beck tóm được Watney.”

“Họ có thể dùng hệ thống điều chỉnh định hướng để đi chậm lại không?”

“Họ đã dùng hết lượng nhiên liệu có thể để rút ngắn khoảng cách kịp lúc. Họ không đủ nhiên liệu để đi chậm lại.” Venkat nhăn mặt.

“Vậy họ có thể làm gì?”

“Tôi không biết,” ông nói. “Và cho dù tôi có biết, tôi cũng không thể nói cho họ nghe kịp.”

“Ôi, mẹ kiếp nó!” Annie nói.

“Ừ,” Venkat đồng tình.

 

***

 

“Watney,” Lewis hỏi, “anh có nghe không?”

“Watney?” Cô lặp lại.

“Chỉ huy,” Beck nói qua radio. “Anh ấy mặc bộ EVA để ra bề mặt đúng không?”

“Đúng thế.”

“Nó có hệ thống theo dõi sinh học đó,” Beck nói. “Và nó đang phát sóng. Không phải tín hiệu mạnh lắm; chỉ được thiết kế để đi xa cách căn Hab hoặc rover vài trăm mét. Nhưng có lẽ chúng ta có thể đón được tín hiệu đó.”

“Johanssen,” Lewis nói.
“Đang làm rồi đây,” Johanssen nói. “Em phải tìm tầng sóng trong dữ liệu chi tiết kỹ thuật. Cho em vài giây.”

“Martinez,” Lewis tiếp tục. “Có cách nào để đi chậm lại không?”

Anh lắc đầu. “Tôi bí rồi, Chỉ huy. Chỉ là chúng ta đi quá nhanh.”

“Vogel?”

“Động cơ ion đơn giản là nó không đủ mạnh,” Vogel trả lời.

“Phải có cách  nào đó,” Lewis nói. “Có cái gì đó chúng ta  có thể làm. Bất cứ việc gì.”

“Đã nhận được tín hiệu từ hệ thống theo dõi sinh học của anh ấy,” Johanssen nói. “Nhịp tim 58, huyết áp 98/61.”

“Không tệ,” Beck nói. “Thấp hơn mong muốn của tôi nhưng anh ấy đã ở trong trọng lực sao Hỏa suốt 18 tháng rồi, như vậy cũng nằm trong dự đoán.”

“Thời gian đến khu vực giao điểm?” Lewis hỏi.

“32 phút,” Johanssen đáp.

 

***

 

Sự bất tỉnh hạnh phúc trở thành một nhận thức mờ mịt rồi chuyển thành một thực tại đau đớn. Watney mở mắt, rồi nheo lại vì cơn đau trong lồng ngực.

Vải bạt gần như chẳng còn gì. Mấy mảnh vải vụn phất phơ bên miệng lỗ mà nó từng bao bọc. Điều này ban tặng cho Watney một tầm nhìn từ quỹ đạo về sao Hỏa không có gì che chắn. Đường chân trời của hành tinh đỏ vĩ đại  kéo dài dường như đến vô tận, bầu không khí mỏng tang khiến nó trông thật mơ hồ. Chỉ 18 người trong lịch sử từng chính mắt chứng kiến cảnh tượng này.

“Con mẹ mày,” anh nói với hành tinh phía dưới.

Với tay lấy cần điều khiển trên cánh tay, anh co rúm lại. Anh thử lại một lần nữa, lần này cử động chầm chậm hơn, anh khởi động radio. “MAV gọi Hermes.”

“Watney!?” Tiếng trả lời vang đến.

“Xác định. Cô hả, Chỉ huy?” Watney nói.

“Xác định. Tình trạng của anh?”

“Tôi đang ở trên con tàu không có bảng điều khiển,” anh nói. “Tôi chỉ có cho cô biết được nhiêu đó thôi.”

“Anh thấy thế nào?”

“Ngực tôi đau quá. Tôi nghĩ mình bị gãy xương sườn. Cô thì sao?”

“Chúng tôi đang cố gắng đến đón anh,” Lewis nói. “Có chút rắc rối lúc phóng tàu.”

“Ừ,” Watney nói, nhìn vào cái lỗ lớn trên mỏm tàu. “Vải bạt chịu không nổi. Lúc bay lên tôi thấy nó rách toạc ra.”

“Điều đó cũng giống với những gì chúng tôi thấy.”

“Tồi tệ đến mức nào vậy Chỉ huy?” Anh hỏi.

“Chúng tôi đã có thể chỉnh lại phạm vi giao điểm của Hermes bằng hệ thống điều chỉnh định hướng. Nhưng có một vấn đề với vận tốc giao điểm.”

“Vấn đề lớn cỡ nào.”

“42 mét/giây.”

“Ô cứt thật.”

 

***

 

“Này, ít ra vào lúc này cậu ấy vẫn ổn,” Martinez nói.

“Beck,” Lewis nói. “Tôi bắt đầu thấy ý kiến của anh có tiềm năng đấy. Anh có thể đi nhanh bao nhiêu nếu tháo dây buộc ra?”

“Xin lỗi, Chỉ huy,” Beck nói. “Tôi đã tính toán rồi. Nhanh lắm là tôi có thể đi được 25 mét/giây. Ngay cả khi tôi có thể đi được đến 42, tôi sẽ cần thêm 42 nữa để bắt kịp Hermes trên đường về.”
“Đã rõ,” Lewis nói.

“Này,” Watney lên tiếng từ radio. “Tôi có sáng kiến.”

“Dĩ nhiên rồi nhỉ,” Lewis nói. “Anh có gì nào?”

“Tôi có thể tìm vật nào nhọn nhọn ở đây để đâm một lỗ vào bao tay trên bộ áo EVA của mình. Tôi có thể dùng khí thoát ra như một động cơ phản lực và bay đến chỗ mọi người. Vị trí của “động cơ” nằm ngay trên cách tay của tôi nên tôi sẽ có thể dễ dàng điều khiển hướng đi của nó.”

“Làm thế nào mà cậu nghĩ ra được mấy trò khỉ này thế?” Martinez chen vào.

“Hừm,” Lewis nói. “Anh có thể đi đến 42 mét/giây bằng cách đó không?”

“Ai mà biết chớ,” Watney đáp.

“Tôi không nghĩ anh sẽ điều khiển được nó nếu dùng cách đó,” Lewis nói. “Anh sẽ nhắm đại vị trí giao điểm và dùng một ‘động cơ’ phản lực anh chưa chắc điều khiển được.”

“Tôi thừa nhận là nó nguy hiểm chết người,” Watney nói. “Nhưng nghĩ mà xem: Tôi sẽ được bay vòng vòng như Iron Man ấy.”

“Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm cách khác,” Lewis nói.

“Iron Man, Chỉ huy à. Iron Man.

“Chờ đó đi,” Lewis nói.

Cô nhíu đôi mày. “Hừm… Có lẽ đó không phải là một ý tưởng quá tệ…”

“Cô đùa à, Chỉ huy?” Martinez nói. “Đó là một ý tưởng rất tệ. Cậu ta sẽ bắn vèo vào không gian…”

“Không phải toàn bộ ý tưởng, nhưng một phần trong đó,”cô nói. “Dùng khí quyển làm động cơ phản lực để đẩy tàu. Martinez, khởi động trạm điều khiển của Vogel.”

“Ok,” Martinez nói, tay đánh bàn phím của mình. Màn hình liền thay đổi thành trạm điều khiển của Vogel. Anh nhanh chóng đổi ngôn ngữ từ Đức sang Anh. “Mở lên rồi. Cô cần gì?”

“Vogel có phần mềm tính toán đường trong trường hợp vỏ tàu bị hở, đúng không?”

“Đúng,” Martinez nói. “Nó ước tính điều chỉnh cần thiết trong trường hợp…”

“Biết rồi, biết rồi,” Lewis nói. “Mở lên đi. Tôi muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta cho nổ VAL.”

Johanssen và Martinez to mắt nhìn nhau.

“Ừm. Vâng, Chỉ huy,” Martinez nói.

“Khu Vehicular Airlock (Cửa khóa khí cơ giới)?” Johanssen nói. “Chị muốn… mở nó ra hả?”

“Trong tàu có nhiều khí lắm,” Lewis nói. “Nó sẽ cho chúng ta sức bậc lại khá tốt đấy.”

“Vâ…ng” Martinez lắp bắp khi mở phần mềm lên. “Và nó có thể làm nổ tung mũi tàu trong quá trình đó luôn.”

“Ngoài ra, tất cả khí bên trong sẽ thoát ra,” Johanssen cảm thấy mình phải lên tiếng nói thêm vào.

“Chúng ta sẽ khóa khu vực cầu nối và phòng phản ứng. Chúng ta có thể để những chỗ khác rút xuống trạng thái chân không, nhưng chúng ta không muốn sức ép dễ nổ ở gần lò phản ứng.”

Martinez nhập tình huống vào phần mềm. “Tôi nghĩ chúng ta sẽ có vấn đề y hệt Watney, nhưng ở tầm vĩ mô hơn. Chúng ta không thể định hướng lực đẩy đó.”

“Chúng ta không cần phải làm thế,” Lewis nói. “Khu VAL nằm ngay mũi tàu. Khí thoát ra sẽ thành động cơ phản lực đi ngay vào khối tâm của tàu của chúng ta. Ta chỉ cần chỉa mũi tàu trực tiếp ngược lại hướng chúng ta muốn đến.”

“Ok tôi có kết quả rồi đây,” Martinez nói. “Lỗ hở trong khu VAL, với khu vực cầu nối và phòng phản ứng đóng kín hoàn toàn, sẽ tăng tốc cho chúng ta thêm 29 mét/giây.”

“Chúng ta sẽ có vận tố tương đối 13 mét/giây sau đó,” Johanssen nói thêm.

“Beck,” Lewis lên tiếng. “Anh đã nghe hết những điều này chưa?”

“Xác nhận, thưa Chỉ huy,” Bech nói.

“Anh có thể xử lý 13 mét/giây chứ?”

“Hơi liều lĩnh,” Beck đáp. “13 để bắt kịp MAV rồi thêm 13 để bắt kịp Hermes. Nhưng vậy dễ hơn rất nhiều so với 42 chết tiệp kia.”

“Johanssen,” Lewis nói. “Thời gian đến giao điểm?”

“18 phút, thưa Chỉ huy.”

“Phải một cú choáng đến cỡ nào thì chúng ta mới cảm nhận được sự thay đổi do khe hở?” Lewis hỏi Martinez.

“Khí sẽ thoát ra trong vòng 4 giây,” anh đáp. “Chúng ta chỉ cảm nhận được lực chưa đến 1 g.”

“Watney,” cô nói vào điện đàm. “Chúng tôi có kế hoạch rồi nè.”

“Yay! Kế hoạch!” Watney trả lời.

 

***

 

“Houston,” Giọng nói của Lewis vang ra từ khu Điều hành Phi vụ, “xin lưu ý rằng chúng tôi sẽ cố tình làm hở VAL để tạo lực đẩy.”

“Cái gì?” Mitch nói. “Cái gì!?” Ông hét lớn.

“Ôi… Chúa ơi,” Venkat nói trong phòng quan sát.
“Giết mẹ tôi cho rồi,” Annie nói rồi đứng bật dậy. “Tốt hơn hết tôi nên đến phòng họp báo. Có thông tin từ biệt nào trước khi tôi đi không?”

“Họ sẽ làm hở con tàu,” Venkat nói, vẫn chưa hết điếng người. “Họ sẽ cố tình làm hở con tàu. Ôi Chúa tôi ơi…”

“Hiểu rồi,” Annie nói, lững thững đi về phía cửa.

 

***

 

“Làm thế nào để mở mấy cánh cửa khóa khí?” Martinez hỏi. “Chẳng cách nào mở từ xa được, và nếu có ai ở gần đó khi nó nổ…”

“Đúng thế,” Lewis nói. “Chúng ta có thể mở một cửa còn cửa kia vẫn đóng, nhưng làm sao mà mở cửa kia?”

Cô suy nghĩ một hồi. “Vogel,” cô nói vào radio. “Tôi cần anh trở vào trong và làm một trái bom.”

“Ừm. Làm ơn lập lại đi, Chỉ huy?” Vogel đáp.

“Một trái bom,” Lewis xác nhận. “Anh là nhà hóa học. Anh có thể tạo ra trái bom với những thứ sẵn có trên tàu không?”

“Ja,” Vogel đáp. “Chúng ta có chất dễ cháy và ôxy tinh khiết.”

“Nghe được đấy.” Lewis nói.

“Đương nhiên là rất nguy hiểm khi châm ngòi một thiết bị gây nổ trong tàu không gian,” Vogel giảng đạo.
“Vậy làm trái nhỏ thôi,” Lewis nói. “Nó chỉ cần đâm cái lỗ trong cửa khóa khí bên trong. Cái lỗ nào cũng được. Nếu nó làm nổ tung cánh cửa cũng được. Nếu không thì, khí sẽ thoát ra chậm hơn, nhưng trong thời gian lâu hơn. Sự thay đổi động lượng cũng giống nhau thôi và chúng ta sẽ đạt được gia tốc cần thiết.”

“Điều chỉnh áp suất Airlock 2,” Vogel báo cáo. “Làm thế nào để kích hoạt trái bom này?”

“Johanssen?” Lewis nói.

“Ừ…” Johassen đáp. Cô nhặt điện đàm và nhanh chóng đeo vào tai. “Vogel, anh cố thể chạy dây nối vào trong đó không?”

“Jas,” Vogel đáp. “Tôi sẽ dùng nút vặn bằng chỉ với một lỗ nhỏ để chạy dây xuyên qua. Nó sẽ không có ảnh hưởng nhiều đến xi dán.”

“Chúng ta có thể chạy dây đến bảng đèn 41,” Johanssen nói. “Nó nằm ngay cạnh cửa khóa khí, và em có thể tắt mở nó từ chỗ này.”

“Vậy đó sẽ là cò súng từ xa của chúng ta,” Lewis nói. “Johanssen đi sắp xếp bảng đèn đi. Vogel, trở vào trong này làm trái bom. Martinez, đi đóng cửa và xi kín hết các cánh cửa gần phòng phản ứng.”

“Vâng, Chỉ huy,” Johanssen nói, đá vào ghế mình để bay thẳng vào hành lang.

“Chỉ huy,” Martinez nói, dừng lại trước cửa ra. “Cô muốn tôi đem mấy bộ áo du hành lên đây không?”

“Chẳng ích gì đâu,” Lewis nói. “Nếu xi trên cầu không chịu đựng được chúng ta sẽ bị hút với vận tốc gần bằng vận tốc của âm thanh. Chúng ta sẽ nát như tương dù có mặc áo phi hành hay không.”

“Đã rõ, Chỉ huy.”

“Anh vào trong chưa, Vogel?” Lewis hỏi.

“Tôi vừa vào tới đây, Chỉ huy.”

“Beck,” Lewis nói vào điện đàm. “Tôi cũng cần anh trở vô trong luôn. Nhưng đừng cởi áo phi hành ra.”
“Ok,” Beck nói. “Tại sao thế?”

“Chúng ta sẽ phải thật sự làm nổ một trong mấy cánh cửa.” Lewis giải thích. “Tôi thà là chúng ta nổ cánh bên trog. Tôi muốn cánh bên ngoài không bị hề hấn gì để chúng ta có thể giữ cho việc phanh khí lực được trơn tru.”

“Hợp lý đấy chứ.” Beck vừa đáp lại vừa bay là là vào bên trong tàu.

“Một vấn đề thôi,” Lewis nói. “Tôi muốn cửa bên được khóa lại trong vị trí mở hoàn toàn với hệ thống nút chặn cơ khí để nó khỏi bị phá banh vì sức ép.”

“Cô cần phải có người bên trong cửa khóa khí để làm điều đó,” Beck nói. “Và cô không thể mở cửa bên trong nếu cửa bên ngoài khóa trong vị trí mở.”

“Đúng thế,” Lewis nói. “Tôi cần anh đến khu VAL, giảm áp, và khóa cửa ngoài trong vị trí mở. Rồi anh phải bò theo vỏ tàu về lại Airlock 2.”

“Đã rõ, Chỉ huy,” Beck nói. “Trên khắp vỏ tàu đều có nhiều chỗ có then chốt. Tôi sẽ kéo theo dây buộc nữa, theo phong cách leo núi.”

“Làm nhanh đi,” Lewis nói. “Còn Vogel, anh cần gấp lên đấy. Anh phải làm trái bom, lắp đặt nó, và trở vào Airlock 2, mặc áo du hành, giảm áp, và mở cửa ngoài để Beck có thể chui vào lại.”

“Ngay lúc này anh ấy đang cởi áo du hành nên không thể trả lời,” Beck báo cáo, “nhưng anh ấy đã nghe rõ lệnh.”

“Watney, anh sao rồi?” Giọng Lewis lại vang lên trong tai anh.”
“Đến giờ vẫn tốt, Chỉ huy,” Watney trả lời. “Cô nói có kế hoạch?”

“Chắc chắn rồi,” cô đáp. “Chúng tôi sẽ thoát khí để lấy lực đẩy.”

“Làm thế nào?”

“Chúng tôi sẽ cho nổ một lỗ trong VAL.”

“Cái gì!?” Watney réo lên. “Làm thế nào!?”

“Vogel đang làm trái bom.”

“Tôi biết ngay thằng cha ấy là nhà khoa học điên mà!” Watney nói. “Tôi nghĩ chúng ta nên làm theo sáng kiến Iron Man của tôi đi.”

“Vụ đó quá liều lĩnh và anh cũng biết thế,” cô đáp.

“Vấn đề là,” Watney nói. “Tôi rất ích kỷ. Tôi muốn mọi sự tưởng niệm ở quê nhà chỉ dành cho mình tôi thôi. Tôi không muốn đám dở hơi các người được hưởng chút nào trong đó cả. Tôi không thể để mọi người phát nổ khu VAL được.”

“Ồ,” Lewis nói. “À nếu anh không muốn bọn này làm thế… chờ chút… chờ chút coi… Tôi đang nhìn miếng vải trên vai áo mình và hóa ra tôi mới là Chỉ huy nè. Ngồi yên vị đi. Chúng tôi đến đón anh đây.”
“Cái đồ ngông nghênh.”

 

***

 

Là một nhà hóa học, Vogel biết cách chế tạo bom. Trên thực tế, phần lớn thời gian huấn luyện của anh dành để tập tránh khỏi việc lỡ tay tạo một trái bom.

Con tàu ít có thứ dễ cháy nào, vì nguy hiểm chết người của lửa. Nhưng thức ăn, theo bản tính vốn có của nó, chứa đựng hydrô carbon dễ cháy. Vì không có thời gian ngồi xuống tính toán, anh ước chừng.

Đường có 4000 calorie thực phẩm trong mỗi kí. Mỗi calorie thực phẩm bằng với 4184 Joules. Đường trong môi trường không trọng lực sẽ trôi lềnh bềnh và hạt đường sẽ tách ra, vậy diện tích bề mặt sẽ là tối ưu. Trong môi trường ôxy tinh khiết, 16.7 triệu Joules sẽ được xuất ra từ mỗi kí đường được dùng, tạo ra lực nổ ngang với 8 thanh dynamit (thuốc nổ). Đó chính là bản chất tự nhiên của sự đốt cháy trong môi trường ôxy tinh khiết.

Vogel đo lượng đường thật cẩn thận. Anh đổ nó vào trong thùng chứa chắc chắn nhất mình có thể tìm thấy, một cốc bêse thủy tinh dày. Sức chịu đựng của thùng chứa cũng quan trọng như thuốc nổ bên trong. Một thùng chứa yếu sẽ tạo thành một quả pháo không có nhiều sức chấn động. Tuy nhiên, một thùng chứa mạnh sẽ chứa đựng được áp suất cho đến khi nó lên đến tiềm năng phát nổ thật sự.

Anh nhanh chóng khoan một lỗ nhỏ trong nút chèn, rồi cắt một phần dây. Anh cho dây chạy xuyên qua cái lỗ.

“Sehr gefährlich,” anh lầm bầm trong khi đổ dung dịch ôxy lỏng từ trong nguồn dự trữ của tàu vào cốc, rồi nhanh tay vặn nút vặn lên trên. Chỉ trong vài phút, anh đã tạo ra một trái bom hình ống thô sơ.

“Sehr, sehr, gefährlich.

Anh bay ra khỏi phòng lab và đi về hướng mũi tàu.

 

***

 

Johanssen đang làm việc với bảng đèn khi Beck bồng bềnh trôi về hướng cửa khóa khí.

Cô tóm lấy cánh tay anh. “Cẩn thận khi bò dọc vỏ tàu nhé.”

Anh quay sang đối diện cô. “Cẩn thận khi cài đặt bom nha.”

Cô  hôn lên khiên che mặt của anh rồi bối rối nhìn đi chỗ khác. “Hành động này ngốc nghếch thật. Đừng nói với ai em đã làm thế nhé.”

“Đừng nói với ai là anh thích điều đó,” Beck mỉm cười.

Anh đi vào cửa khóa khí vào đóng cánh cửa bên trong lại. Sau khi giảm áp, anh mở cửa ngoài ra và khóa nó lại tại vị trí đó. Rồi anh nắm tay vịn trên vỏ tàu, tự kéo mình ra ngoài.

Jonhanssen quan sát cho đến khi không còn nhìn thấy anh nữa, rồi cô quay lại với bảng đèn. Cô đã tắt nó từ lúc còn ở trạm điều khiển của mình. Cô kéo sợi dây cáp ra một chút và gọt vỏ dây ở một đầu, cô tiêu phí chút thời gian với cuộn băng keo điện cho tới khi Vogel đến.

Chỉ trong vòng một phút Vogel đã có mặt, anh cẩn thận bay dọc hành lang, hai tay cầm quả bom.

“Tôi phải dùng dây điện đơn để bắt lửa,” anh giải thích. “Tôi không muốn liều hai sợi chỉ cho để có tia phát lửa. Sẽ rất nguy hiểm cho chúng ta nếu có tĩnh điện trong lúc đang cài đặt.”

“Làm thế nào để kích hoạt nó?” Johanssen hỏi.

“Sợi dây điện phải đạt đến một nhiệt độ thật cao. Nếu cô làm cho nó bị chập mạch, vậy là đã đủ.”

“Tôi sẽ phải kẹp cầu dao lại,” Johanssen nói, “nhưng sẽ làm được thôi.”

Cô xoắn dây điện của bảng đèn với dây điện của quả bom rồi dán chúng lại.

“Xin lỗi,” Vogel nói. “Tôi phải trở về Airlock 2 để mở cửa cho Bác sĩ Beck vào.”

“Ừm,” Johanssen nói.

 

***

 

Martinez bay về lại hướng cầu nối. “Tôi có vài phút, nên tôi đã kiểm tra mọi thao tác cần cho việc dùng phanh khí lực để khóa phòng phản ứng. Mọi thứ đều sẵn sàng tăng tốc và khu vực đó đã được đóng kín lại.”

“Suy nghĩ chu đáo đấy,”Lewis nói. “Chuẩn bị thay đổi định hướng đi.”

“Đã rõ, Chỉ huy.” Martinez nói, bay trở về trạm điều khiển của mình. “Chỉ mất vài giây. Tôi cần làm mọi thứ theo trình tự ngược lại. Khu VAL nằm phía trước, nên nguồn lực đẫy sẽ nằm đối diện trực tiếp với động cơ của chúng ta. Phần mềm của ta không nghĩ rằng chúng ta có một động cơ chỗ đó. Tôi chỉ cần cho nó biết chúng ta có ý định đẩy tàu về hướng Mark.”

“Làm từ từ mà làm cho đúng đấy,” Lewis nói. “Nhưng đừng ra hiệu lệnh cho đến khi tôi lên tiếng. Chúng ta không thể xoay tàu vòng vòng trong khi  Beck vẫn còn ở bên ngoài vỏ tàu.”

“Đã rõ,” anh nói. Sau một hồi, anh tiếp tục, “Ok, mọi điều chỉnh đã sẵn sàng chờ lệnh.”
“Chờ.” Lewis nói.

 

***

 

Vogel mặc lại áo du hành, giảm áp Airlock 2 và mở cửa bên ngoài.

“Đến lúc rồi đó,” Beck vừa nói vừa leo vào bên trong.

“Xin lỗi đã chậm trễ,” Vogel nói. “Tôi được yêu cầu àm một quả bom.”

“Hôm nay là một ngày hơi khác thường,” Beck nói. “Chỉ huy, Vogel và tôi đã ở vào vị trí.”

“Đã rõ,” tiếng trả lời của Lewis vọng về. “Đi lên dựa người vào tường phía trước của cửa khóa khí. Tình trạng sẽ ở mức 1 g trong vòng bốn giây. Nhớ đảm bảo rằng cả hai người đều được dây buộc lại nhé.”

“Đã rõ,” Beck nói và gắn dây buộc vào người mình. Hai người đàn ông ấn mình vào tường.

 

***

 

“Ok, Martinez,” Lewis nói, “Xoay chúng ta đúng hướng đi.”

“Đã rõ,” Martinez nói, ra lệnh cho tàu điều chỉnh định hướng.

Johanssen bay vào cầu nối khi tàu đang chỉnh lại định hướng. Căn phòng xoay quanh cô khi cô với tới được tay vịn. “Trái bom đã sẵn sàng, và cầu dao đã được ngắt,” cô nói. “Em có thể kích hoạt bằng cách mở bảng đèn 41 từ xa.”

“Khóa cầu và về trạm của em đi,” Lewis nói.

“Đã rõ,” Johanssen nói. Cô dỡ cái xi khẩn cấp ra, và nhét vào cửa ra vào của cầu nối. Chỉ với vài vòng của khóa quay, công việc đã hoàn thành. Cô quay về trạm của mình và chạy một kiểm định nhanh chóng. “Tăng áp suất trong khu cầu nối lên 1.03 atm… áp suất ổn định và chúng ta có xi kín rồi.”

“Đã rõ,” Lewis nói. “Giờ đến giao điểm?”

“28 giây,” Johanssen nói.

“Wow,” Martinez nói. “Chúng ta chơi sát nút giờ giấc luôn.”

“Sẵn sàng chưa, Johanssen?” Lewis hỏi.

“Vâng,” Johanssen nói. “Em chỉ phải nhấn Enter thôi.”

“Martinez, góc độ của anh thế nào rồi?”

“Chuẩn xác luôn, Chỉ huy.” Martinez báo cáo.

“Cài dây an toàn,” Lewis nói.

Cả ba người họ thắt chặt dây an toàn trên ghế mình.

“20 giây,” Johanssen nói.

 

***

 

Teddy ngồi xuống ghế mình trong phòng VIP. “Tình trạng thế nào?” Ông hỏi.

“Còn 15 giây nữa là họ cho nổ khu VAL,” Venkat nói. “Nãy giờ anh đâu vậy?”

“Nói điện thoại với Ngài Tổng thống,” Teddy nói. “Anh nghĩ vụ này thành công không?”

“Tôi hoàn toàn không biết,” Venkat đáp. “Chưa bao giờ tôi thấy bất lực đến thế này trong đời mình.”

“Nếu có thể giúp anh thấy an ủi hơn,” Teddy nói, “Cho anh biết cả thế giới này cũng đang có cảm giác như vậy.”

Ở phía bên kia khung cửa kính, Mitch đi đi lại lại liên hồi.

 

***

 

“5… 4… 3… “ Johanssen nói.

“Chuẩn bị tinh thần để tăng tốc,” Lewis nói.

“2… 1… “ Johanssen tiếp tục. “Kích hoạt Bảng Đèn 41.”

Cô ấn nút Enter.

Bên trong quả bom của Vogel, toàn bộ cường độ điện của hệ thống đèn bên trong chạy qua một sợi dây mỏng và bị hở. Ngay lập tức nó đạt đến nhiệt độ bắt lửa của đường. Một hiện tượng vốn chỉ là mấy tiếng xì xèo nho nhỏ dưới khí quyển Trái Đất trở thành một đám cháy lớn bên trong thùng chứa có môi trường ôxy tinh khiết. Chưa đến 100 mili giây, áp suất gây cháy khủng khiếp nổ tung thùng chứa và xét tan nát cửa khóa khí như giấy vụn.

Không khí bên trong Hermes vội lùa về khu VAL đang mở toang, đẩy mạnh Hermes đi hướng ngược lại.

Vogel và Beck bị ấn mạnh vào tường của Airlock 2. Lewis, Martinez và Johanssen chịu đựng sự tăng tốc trên ghế ngồi của họ. Đó không phải là một lực nguy hiểm gì, sự thật thì nó còn ít hơn trọng lực trên bề mặt Trái Đất. Nhưng đó là một lực không đồng đều và gây xóc nảy.

Sau bốn giây, những rung động dần biến mất và con tàu trở về tình trạng vô trọng lực.

“Phòng phản ứng vẫn còn áp suất,” Martinez báo cáo.

“Xi cầu nối vẫn chịu đựng được.” Johanssen nói. “Rõ ràng là vậy.”
“Hư hỏng?” Martinez hỏi.

“Không chắc nữa,” Johanssen nói. “Tôi có Máy quay Ngoại biên 4 chỉa về hướng mũi tau. Tôi không thấy có vấn đề gì với phần bên ngoài vỏ tàu cả.”

“Lo chuyện đó sau,” Lewis nói. “Vận tốc tương đối và khoảng cách đến MAV là gì?”
Johanssen nhanh tay đánh máy. “Chúng ta sẽ đến phạm vi 22 mét và chúng ta sẽ đạt 12 mét/giây. Hơn cả sự mong đợi của chúng ta với động cơ phản lực nữa.”

“Watney,” Lewis nói. “Thành công rồi. Beck đang đến đấy.”

“Tuyệt cú mèo!” Watney nói lại.

“Beck,” Lewis nói. “Đến lượt anh. 12 mét/giây.”
“Cũng gần đủ rồi!”Beck đáp.

 

***

 

“Tôi sẽ nhảy ra ngoài,” Beck nói. “Nó sẽ cho tôi thêm 2 hoặc 3 mét/giây.”
“Đã hiểu,” Vogel nói, thả lỏng dây buộc của Beck. “Chúc may mắn, Bác sĩ Beck.”

Beck đạp chân lên tường phía sau, thu mình lại rồi phóng ra khỏi cửa khóa khí.

Sau khi tự do bên ngoài, anh xác định phương hướng của mình. Nhìn nhanh sang phải anh có thể thấy những khu vực mà mình không thể thấy từ bên trong cửa khóa khí.

“Tôi thấy rồi!” anh la lên. “Tôi có thể thấy MAV! Chúa ơi, Mark, ông đã làm cái gì với con tàu vậy?”

“Ông còn chưa thấy mấy trò tôi đã làm với con rover đâu,” Watney nói vọng lại trong radio.

Beck đẩy mình đến đường giao điểm. Anh đã tập dợt thao tác này nhiều lận. Trong những bài huấn luyện, tình huống giả định là anh sẽ cứu hộ một đồng đội đã bị đứt dây buộc, cơ bản là tình huống này cũng gần giống như vậy.

“Johanssen,” anh nói. “Nhận được vị trí của anh trên radar chưa?

“Nhận được,” cô đáp lại.

“Cứ chừng hai giây thì đọc lớn vận tốc tương đối của anh đến chỗ Mark.”

“Đã rõ. 5.2 mét/giây.”

“Này Beck,” Watney nói. “Đầu tàu mở rộng ra. Tôi sẽ leo lên đó và sẵn sàng tóm lấy ông.”

“Không được,” Lewis ngắt lời. “Không được cử động khi không có dây buộc. Ngồi yên và giữ dây an toàn đó cho đến khi anh bám được vào Beck.”

“Đã rõ,” Watney trả lời.

“3.1 mét/giây,” Johanssen báo cáo.

“Đã rõ.”

“6 mét.” Johanssen nói.

“Và…aa, đẩy ngược hướng lại.” Beck nói, bật máy phản lực của MMU lên lại. Chiếc MAV bay lượn lờ trước mặt anh. “Vận tốc?” Anh hỏi.

“1.1 mét/giây,” Johanssen nói.

“Cũng tạm ổn,” anh đáp, tay với đến con tàu. “Tôi đang trôi dạt về hướng nó. Tôi nghĩ mình có thể bắt được vài mảnh vải bạt rách bươm kia…”

Vải bạt rách nát có vẻ phù hợp với nhiệm vụ làm “tay vịn” cho con tàu nhẵn bóng này. Beck với tay thật xa hết khả năng của anh, và nắm chặt nó.

“Tiếp xúc rồi,” Beck nói. Anh nắm tay chặt lại, kéo người mình về phía trước và vung tay kia chụp thêm nhiều vải bạt hơn. “Tiếp xúc ổn định!”

“Bác sĩ Beck,” Vogel nói. “Chúng ta đã vượt điểm tiếp xúc gần nhất và bây giờ anh đang trôi đi xa đấy. Anh còn 169 mét dây buộc nữa thôi. Vừa đủ cho 14 giây.”
“Đã rõ,” Beck nói.

Nhú đầu vào bên lỗ hở của MAV, anh nhìn thấy khoang tàu bên trong và Watney còn ngồi thắt dây an toàn trong ghế mình.

“Đã thấy Watney!” Anh báo cáo.

“Đã thấy Beck!” Watney báo cáo.

“Khỏe không ông bạn?” Beck nói, kéo thân người mình vào bên trong con tàu.

“Tôi… tôi chỉ…” Watney nói. “Cho tôi một phút. 18 tháng ròng rồi ông là người đầu tiên tôi gặp.”

“Chúng ta chẳng có một phút đâu,” Beck nói, chân đạp vào tường. “Chúng ta còn 11 giây cho đến lúc dây buộc căng hết cỡ.”

Đường bay của Beck bắn anh đến chỗ ghế rồi loạng choạng đâm sầm vào Watney. Cả hai nắm tay nhau để Beck khỏi nảy tưng đi. “Tiếp xúc với Watney!” Beck nói.

“8 giây, Bác sĩ Beck.” Vogel nói vào radio.

“Đã rõ,” Beck nói rồi vội vàng chốt áo của mình vào cái  kẹp dành cho dây nối trên áo Watney. “Kết nối,” anh nói.

Watney tháo dây an toàn trên ghế mình. “Dây an toàn tháo ra.”

“Chúng ta đi thôi,” Beck nói rồi đạp chân lên ghế bắn người về hướng lỗ hở.

Hai người đàn ông bay lơ lửng dọc khoang MAV đến đó. Anh với tay vào miệng lỗ khi họ đi ngang qua đó.

“Ra ngoài rồi,” Beck báo cáo.

“5 giây,” Vogel nói.

“Vận tốc tương đối đến Hermes: 12 mét/giây.” Johanssen nói.

“Đang đẩy mạnh,” Beck vừa nói vừa kích hoạt MMU.

Cả hai tăng tốc về hướng Hermes một vài giây. Đột nhiên bảng điều khiển của MMU ở màn hình trên đầu Beck hiện lên màu đỏ.

“Hết nhiên liệu rồi,” Beck nói. “Vận tốc?”
“5 mét/giây,” Johanssen đáp.

“Chờ,” Vogel nói. Trong suốt quá trình này, anh đã nhả dây buộc ra khỏi cửa khóa khí. Giờ anh dùng cả hai tay nắm chặt phần càng ngày càng ngắn lại của sợi dây. Anh đã không kẹp nó lại vì làm như thế sẽ kéo anh văng ra ngoài cửa khóa khí. Anh chỉ nắm tay mình trên dây buộc để tạo ra ma sát mà thôi.

Hermes kéo theo Beck và Watney, còn Vogel dùng dây buộc như một lò xo chống sốc. Nếu Vogel dùng quá nhiều lực, lực sốc sẽ kéo dây buộc khỏi kẹp trên áo của Beck. Nếu anh dùng quá ít, dây buộc sẽ nhả ra hết trước khi vận tốc của hai bên bằng nhau, rồi nó sẽ dừng lại đột ngột ở đầu bên kia, điều đó cũng kéo toạc kẹp trên áo Beck.

Vogel xoay xở để giữ cân bằng. Sau vài giây tuân thủ luật vật lý theo trực giác căng thẳng của mình,  Vogel cảm nhận được lực trên dây buộc bắt đầu dịu đi.

“Vận tốc zero!” Johanssen reo lên vui mừng.

“Kéo họ vào đi, Vogel,” Lewis nói.

“Đã rõ,” Vogel nói. Từng nắm tay một, anh chầm chậm kéo những người đồng đội của  mình về hướng cửa khóa khí. Sau vài giây, anh ngừng kéo và chỉ đón dây khi nó men theo tàu về hướng anh.

Họ bay vào trong cửa khóa khí, và Vogel nắm giữ họ lại. Beck và Watney đều vươn người đón tay vịn trên tường còn Vogel đi vòng qua người họ để đóng cửa bên ngoài.

“Lên tàu!” Beck nói.

“Cửa bên ngoài Airlock 2 đã đóng,” Vogel nói.

“Yes!” Martinez reo lên.

“Đã rõ,” Lewis nói.

 

***

 

Giọng Lewis vang khắp cả thế giới: “Houston, đây là Hermes Hiện tại. Sáu phi hành gia an toàn trên tàu.”

Tiếng vỗ tay nổ vang trong phòng điều hành. Họ nhảy cẫng lên từ ghế mình, họ hân hoan vui sướng, họ ôm chầm lấy nhau, và họ khóc. Cũng một cảnh tượng ấy diễn ra ở tất cả các công viên, quán bar, trung tâm hành chính, phòng khách, lớp học, và văn phòng.

Mitch phờ phạc kéo điện đàm khỏi tai mình và quay sang nhìn phòng VIP. Qua khung cửa kính, ông nhìn thấy những người đàn ông và phụ nữ ăn mặc chỉnh tề đang ăn mừng một cách cuồng nhiệt. Ông nhìn sang Venkat và thở phào một cái thật to và thật nhẹ nhõm.

Venkat để tay lên đầu mình và thì thầm, “Xin cảm tạ các thần linh.”

Teddy kéo trong cặp táp ra một tập hồ sơ màu xanh. “Annie sắp cần đến tôi trong phòng họp báo.”

“Đoan chắc hôm nay anh không cần một tập hồ sơ màu đỏ,” Venkat nói.

“Thật lòng mà nói, tôi đã không chuẩn bị cái đó.” Khi ông bước đi, ông nói thêm: “Làm tốt lắm Venk. Giờ hãy đưa họ về nhà.”

 

Nhật trình: Ngày phi vụ 687

Con số “687”khiến tôi giật bắn mình một hồi. Trên Hermes, chúng tôi tính thời gian bằng ngày phi vụ. Có thể dưới sao Hỏa đó là Sol 549, nhưng trên này đó lài Ngày phi vụ 687. Và bạn biết gì không? Thời gian dưới sao Hỏa chẳng có nghĩa lý gì bởi vì Tôi không có ở con mẹ nó dưới đó!

Ôi Chúa ơi. Thật sự tôi không còn ở sao Hỏa nữa. Tôi nhận biết được điều đó vì không có trọng lực nhưng lại có những người khác xung quanh. Tôi vẫn còn đang làm quen lại đây.

Nếu đây là một bộ phim, ai cũng sẽ ở trong cửa khóa khí và mọi người sẽ cụng tay nhau ăn mừng. Nhưng mọi chuyện không diễn ra như thế.

Tôi gãy hai cái xương sườn trong quá trình MAV bay lên. Suốt khoảng thời gian này chúng đau nhói, nhưng nó thật sự bắt đầu rống to lên khi Vogel dùng dây buộc kéo chúng tôi vào cửa khóa khí. Tôi không muốn làm những người đang cứu tôi xao lãng đi nhiệm vụ nên tôi tắt âm thanh trong micrô của mình và kêu thất thanh như một đứa bé gái.

Thật sự đó, bạn biết không. Trong không gian, chẳng ai có thể nghe tiếng bạn kêu thất thanh như một đứa bé gái cả.

Khi họ đưa tôi vào Airlock 2 rồi, họ mở cửa bên trong và cuối cùng tôi đã ở trên tàu một lần nữa. Hermes vẫn còn trong tình trạng chân không, cho nên chúng tôi không phải theo chu kỳ tuần hoàn cửa khóa khí.

Beck bảo tôi để thõng tay chân rồi anh ta đẩy tôi xuống hành lang về khu vực của anh ta (khu này dùng để làm “phòng bệnh” khi cần.)

Vogel đi hướng kia để đóng cửa bên ngoài của khu VAL.

Khi Beck và tôi vào đến “phòng bệnh”, chúng tôi chờ cho con tàu điều áp trở lại. Hermes có dư khí để đong đầy con tàu hơn hai lần mức khí nếu cần. Nếu chúng tôi không thể khôi phục khi bị giảm áp thì chuyến đi dài như thế này sẽ rắc rối lắm chứ sao.

Khi Johanssen ra hiệu mọi thứ đã ổn định, ông Bác sĩ Beck Hách dịch bắt tôi phải đợi “ổng” cởi áo của “ổng” ra trước, rồi mới cởi áo cho tôi. Sau khi tháo mũ của tôi ra, anh ta trông có vẻ sốc. Tôi nghĩ có lẽ mình có chấn thương khủng khiếp nào trên đầu hay gì đó, nhưng hóa ra đó là mùi hôi.

Cũng khá lâu rồi tôi chưa giặt rửa… bất cứ thứ gì.

Sau đó, đến công đoạn chụp X-quang và băng bó lồng ngực trong khi những người còn lại trong đoàn kiểm tra xem tàu có hư hỏng gì không.

Rồi mới đến giai đoạn cụng tay ăn mừng (trong đau đớn), tiếp theo mọi người tránh cái mùi hôi hám của tôi càng xa càng tốt. Chúng tôi có vài phút sum họp rồi Beck xua mọi người ra ngoài hết. Anh ấy cho tôi vài viên giảm đau và kêu tôi phải đi tắm ngay khi tôi có thể cử động tay mình một cách thoải mái. Cho nên giờ tôi chỉ nằm đây chờ thuốc có tác dụng.

Tôi nghĩ về một số lượng những con người đã đoàn kết lại để cứu kẻ phiền phức như tôi, và tôi cũng không thể thấu hiểu được điều đó. Những người bạn đồng hành của tôi hy sinh một năm của cuộc đời họ để trở lại cứu tôi. Hàng hà vô số nhân viên ở NASA làm việc bất kể ngày đêm để nghĩ ra những điều chỉnh cho rover và MAV. Tất cả mọi người ở JPL khổ công chế tạo một con tàu do thám rồi sau đó nó nổ tung ngay khi cất cánh. Nhưng rồi, thay vì bỏ cuộc, họ tạo một con tàu khác để cung cấp đồ cho Hermes. Trung tâm Không gian Quốc gia Trung Quốc từ bỏ một dự án họ đã làm suốt nhiều năm chỉ để cho chúng tôi dùng máy tăng thế.

Chi phí để cứu sống tôi chắc chắn hơn cải trăm triệu đô la. Tất cả những số tiền đó chỉ để cứu một thằng mọt thực vật học như tôi. Sao phải làm thế chứ?

À, được rồi. Tôi biết câu trả lời. Một phần đó là vì những thứ tôi đại diện: sự phát triển, khoa học, và tương lai đi xuyên hành tinh mà chúng ta đã mơ ước mấy thế kỷ nay. Nhưng thật sự, họ làm thế chỉ vì bản năng của mỗi con người chính là giúp đỡ những người khác. Đôi khi mọi việc dường như không phải như thế, nhưng đó là sự thật.

Nếu một người bộ bị lạc trên núi, chúng ta sẽ phối hợp để tìm kiếm. Nếu tàu hỏa va chạm, chúng ta sẽ sắp hàng để hiến máu. Nếu một cơn động đất san bằng cả thành phố, con người từ khắp thế giới sẽ gửi lương thực và hàng hóa cứu trợ. Điều nay vốn quá cơ bản trong nhân tính đến nỗi trong bất kỳ văn hóa nào cũng có, không ngoại lệ nào. Vâng, có vài thằng mắc dịch cũng chẳng quan tâm đâu, nhưng chúng không đông bằng những người có lòng trắc ẩn. Và vì lý do đó, tôi có hàng tỷ người về phe của mình.

Hay đấy chứ, ha?

Nhưng dù sao thì lúc này đây xương sườn tôi đau điếng chết được, tầm nhìn của tôi vẫn còn mờ vì bi “say tàu” do tăng tốc. Tôi thật đói bụng quá, và còn 211 ngày nữa mới về đến Trái Đất, và hình như tôi bốc mùi như con chồn hôi vừa đi ị trên mấy đôi vớ thối.

Hôm nay là ngày hạnh phúc nhất của đời tôi.

 

***

 

Watney chén sạch hai miếng pizza và một lon côca. Anh còn nửa giờ để ngồi chơi trước khi trở về Trung tâm Không gian Johnson. Anh rời khỏi tiệm ăn, và ngồi trên một băng ghế công cộng ngay bên ngoài.

Tuần sau sẽ bận rộn lắm đây. Anh sẽ gặp gỡ Kỹ sư Ares 6. Anh đã đọc hồ sơ của cô, nhưng chưa gặp cô bao giờ. Sau đó anh sẽ chẳng có nhiều thời gian để thư giãn. Sáu tuần tới chỉ toàn tập luyện và tập luyện vì anh cố truyền đạt càng nhiều kiến thức càng tốt.

Nhưng đó là chuyện để tính sau. Ngay bây giờ, anh hít một hơi thở từ bầu không khí trong lành và nhìn ngắm người ta qua lại.

“Này, cháu biết chú!” Một giọng nói vang đến từ đằng sau.

Một cậu bé lang thang đi xa khỏi mẹ mình. “Chú là Mark Watney!”

“Con à,” mẹ cậu bé bối rối nói. “Đừng làm phiền người khác như thế.”

“Không sao,” Watney nhún vai.

“Chú lên sao Hỏa!” Cậu bé nói, đôi mắt cậu mở to ngưỡng mộ.

“Chứ còn gì nữa,” Watney nói. “Suýt chút nữa là không về được đó nha.”

“Cháu biết mà!” Cậu bé nói. “Thật tuyệt quá!”

“Này con!” Mẹ cậu bé mắng. “Vô lễ quá đi.”

“Này chú Watney,” cậu bé nói. “Nếu chú có thể lên sao Hỏa lần nữa, nếu có một phi vụ khác và họ muốn chú đi nữa, chú có đi không?”

Watney nhăn mặt nhìn thằng bé. “Mày điên mẹ nó rồi à?”

“Ok, đến lúc phải đi rồi,” người mẹ nói, nhanh tay đẩy cậu bé đi. Chẳng mấy chốc họ lẩn mất trong dòng người qua lại.

Watney khịt mũi cười về hướng họ. Rồi anh nhắm mắt mình để tận hưởng ánh mặt trời. Đó là một buổi trưa đẹp trời, chán ngắt.

—Hết


 

[1] Chuẩn 5 x 5: Khả năng truyền tín hiệu của radio thường được đánh giá về Độ rõ của tín hiệu và Độ mạnh của tín hiệu, trên chuẩn từ 1 đến 5, 5 là hoàn hảo nhất.

[2] MMU: Manned Maneuvering Unit: Máy cho phi hành gia đeo sau lưng để thao tác các chuyển động ngoài không gian.

 


 

Hermes Crew
Hermes Crew

Lời người dịch:

Như mình có ghi ở trên đầu: Truyện dịch từ bản Advance Read nên có thể không giống hoàn toàn với bản xuất bản. Do đó, nếu bạn nào có bản sách in thì sẽ thấy có một số chi tiết không giống với bản dịch này, nhưng không nhiều lắm. Đoạn cuối khi Mark Watney trở về từ sao Hỏa vốn chỉ ở trong bản truyện dài kỳ mà tác giả Andy Weir đã đăng trên mạng từ năm 2012. Tác giả có nói trong một cuộc phỏng vấn , đoạn này nghe quá “lame” (tạm dịch: dở hơi), nên ông không muốn đưa nó vào bản sách in. Tuy nhiên, khi xem phim mình thấy đoạn cuối phim có nói đến số phận của các phi hành gia Hermes, do đó, mình quyết định giữ lại đoạn cuối này, dù chính mình cũng thấy hơi sến súa quá. Sau cùng, xin cảm ơn các bạn độc giả theo dõi truyện này với mình.  🙂 🙂

 

« »
%d bloggers like this: