Revenge: Eleven dark tales

Tác giả: Yoko Ogawa

Người dịch: Du Ca
Hiệu đính: conruoinho

Bản dịch chưa có sự đồng ý của tác giả


 Mục lục

0102 – 03 – 04 – 05 – 06 – 07 – 08 – 09 – 10 – 11 (Hết)


NƯỚC ÉP TRÁI CÂY

Hôm đó đã trễ, và các lớp học đã kết thúc hết. Thư viện vắng vẻ. Khi cô ấy bất ngờ xuất hiện, tôi đang ngồi học bài trong một góc yên tĩnh, khiến tôi giật mình đánh rơi cuốn sách.

“Chủ nhật này cậu có bận không?” cô ấy hỏi.

Câu hỏi của cô ấy khiến tôi bối rối mất một lúc, tôi chẳng biết trả lời gì cả. Cô ấy nhìn chằm chằm xuống sàn nhà, ẩn nửa người bên cạnh kệ sách.

“À nếu cậu đã có kế hoạch rồi, thì đương nhiên, đừng bận tâm về những gì mình nói.” Cô ấy giữ quyển sách trên tay, và lơ đãng chà gáy sách vào lòng bàn tay mình. Tôi biết cô ấy học cùng lớp với mình, nhưng trước đó chúng tôi chẳng bao giờ nói chuyện với nhau, và tôi chưa bao giờ gần cô ấy như thế này.

“Không có, mình không bận gì cả,” tôi nói cộc lốc, nhằm che giấu đi vẻ bối rối của mình.

“Ờ… mình hi vọng cậu sẽ cùng đến vài chỗ với mình.”

Cô ấy hẹn hò với tôi đúng không? Hình như là vậy. Nếu thế thì tôi không từ chối đâu. Cô ấy coi bộ cũng dễ thương à. Tuy vậy, cùng lúc ấy tôi biết tốt hơn là đừng vội đi tới kết luận – và lời mời của cô ấy giống như một lời xin lỗi hơn là đang cố gắng tán tỉnh.

“Vậy chúng ta định đi đâu?” tôi hỏi.

“Đến một nhà hàng Pháp,” cô ấy nói hơi ấp úng, ánh mắt cô ấy vẫn dán chặt vào sàn nhà. “Mình không muốn đi, nhưng mình phải đi. Chúng ta sẽ ăn trưa… chỉ thế thôi. Nó không khó đâu.” Cả người cô ấy dường như co lại sau mỗi từ cô ấy nói, như thể cô ấy hi vọng sẽ trốn luôn vào trong kệ sách, nấp sâu vào bóng tối của thư viện. “Mình biết điều này có vẻ hơi tùy tiện. Nên cậu chỉ cần nói cho mình biết nếu không muốn đi.”

Ánh nắng chiếu xuyên qua cửa sổ về hướng tây, làm cho mái tóc dài cô ấy ánh màu hổ phách. Tôi có thể nghe tiếng quả bóng rổ dội xuống nền phòng tập thể dục ở xa xa.

“Đương nhiên là mình sẽ đi chứ,” tôi nói. “Chỉ ăn trưa thôi đúng không? Tại sao lại không đi chứ?”

Tôi cố nén lại thôi thúc hỏi chi tiết hơn, hoặc hỏi tại sao cô ấy lại chọn tôi mà không phải ai khác đi với cô ấy. Tôi lo lắng liệu nếu cô ấy bị ép phải nói rõ hơn, thì cô ấy có thể co lại hơn nữa và biến mất hoàn toàn luôn không.

“Cảm ơn cậu,” cô nói, với vẻ thở phào nhẹ nhõm lộ rõ ra. Rồi cuối cùng cô cũng nhìn lên và cười mỉm nhẹ nhàng, nhưng tôi lại thấy có một sự thất vọng bỗng dâng trào lên.

***

“Mẹ của mình bị ốm,” cô gái đã kể với tôi khi ở trên xe điện ngầm trên đường tới nhà hàng. “Cậu có biết bà ấy nằm viện không?” tôi lắc đầu. Tôi nghe nói cô ấy sống một mình với mẹ mình, nhưng tôi chỉ biết có thế thôi. Có tin đồn truyền trong trường là cô ấy là một đứa trẻ ngoài giá thú của ai đó. Tôi chẳng nhớ được gì thêm nữa.

“Bà bị ung thư gan. Bà sống chẳng lâu nữa.” Những từ cô ấy nói rõ hơn cả tiếng ầm ầm của tàu điện ngầm. “Có một ngày bà đã kể cho mình nghe rằng nếu có bất kỳ điều gì xảy ra với bà thì mình nên liên lạc với người đàn ông này, ông ấy sẽ giúp mình.”

Cô ấy lấy ra một tấm danh thiếp trong túi váy. Nó có in một cái tên của một vị chính khách khá nổi tiếng, người đã làm ở vài vị trí quan trọng, như Bộ trưởng Lao động hay có lẽ là Tổng Giám đốc Sở Bưu điện. Các mép của tấm danh thiếp đều bị nhàu nhĩ và mòn đi rồi, như thể là mẹ cô ấy đã giữ nó được một thời gian rồi.

“Tình hình mẹ cậu thế nào?” tôi hỏi, hoàn toàn không biết nói gì. Tôi sợ làm cô ấy buồn.

“Nằm viện bốn tháng rồi. Mình ở nhà một mình suốt thời gian đó.”

Cô ấy mặc một chiếc áo choàng hoa văn cây cỏ và chiếc váy vải mềm. Cổ áo và cổ tay của áo choàng đã được ủi thẳng nếp. Mặc thế này trông cô ấy trông chửng chạc hơn so với bộ đồng phục ở trường.

Cô ấy là một cô gái kín đáo, có lẽ là trầm lặng nhất lớp chúng tôi. Cô ấy dường như không bao giờ nói chuyện trong lớp, và khi được yêu cầu đứng lên dịch các đoạn văn từ tiếng Anh, hay giải toán trên bảng, cô ây làm điều đó với phong thái dè dặt nhât, chẳng chút ồn ào. Cô ấy không có bạn để nhắc đến, không tham gia câu lạc bộ nào cả, và cô ấy ăn trưa một mình ở một nơi kín đáo.

Dù vậy, không ai ức hiếp hay đối xử với cô ấy như một kẻ bị ruồng bỏ. Không phải cô ấy khó chịu, mà chỉ là thật dễ dàng để ngó lơ cô ấy mà thôi. Thậm chí bạn có thể nói rằng sự im lặng của cô ấy rất hợp với cô ấy. Làn da xanh sao, tóc dài và thẳng, sự tăm tối dưới đôi mắt cô ấy khi cô ấy cúi đầu xuống – tất cả những điều đó khiến cho cô ấy có một sự yên bình mà tôi cho rằng tụi tôi chẳng hề muốn làm phiền.

Nhưng khi ai đó chú ý đến cô ấy, thì dường như là cô ấy luôn luôn xin lỗi về chuyện đó – tôi tin rằng “cảm thấy hối tiếc” có thể là từ tốt nhất để miêu tả cô ấy. “Mình xin lỗi, vui lòng đừng để ý đến mình…” Bạn có thể gần như nghe được lời thì thầm của cô ấy, như một câu thần chú vậy, một phép thuật phù thủy để tạo ra một nơi yên tĩnh dành cho cô ấy.

“Hôm nay là lần đầu cậu gặp ông ấy à?” tôi hỏi, liếc nhìn xuống tấm danh thiếp trên tay cô ấy.

“Ừm.”

“Ông ta chưa bao giờ đến gặp cậu, thậm chí khi cậu còn nhỏ?”

“Chưa bao giờ cả,” cô ấy lắc đầu nói.

Cô ấy gần tôi đến mức tôi tự hỏi liệu cô ấy có thể cảm nhận được hơi thở của tôi hay không. Tấm danh thiếp run run trong tay cô ấy.

***

Người phục vụ dẫn chúng tôi vào trong một căn phòng riêng sau lưng nhà hàng, nơi người đàn ông đã ngồi sẵn ở một cái bàn quá rộng cho cả ba, hớp một ngụm cocktail đỏ chói. Vì vài lý do tôi đoán chừng ông ta sẽ đi cùng một thư ký hay bảo vệ, nhưng ông ấy chỉ một mình.

Trần nhà có treo đèn chùm và hoa được đặt quanh phòng. Các món đồ bằng bạc sáng chói, khăn bàn màu trắng tinh.

Họ gần như không phải đang chào nhau, trao đổi không quá vài tiếng càu nhàu mập mờ vô nghĩa. Cô ấy ngồi xuống mà chẳng thèm giới thiệu tôi, và tôi nhận ra thời điểm dành cho các lễ nghi đã qua đi rồi.

Ngồi xuống ngay sau cô ấy, cô ấy xem thực đơn từ trên xuống dưới, dù trông cô ấy chẳng có vẻ gì đang chọn món ăn cả. Việc này diễn ra được một lúc. “Gọi món gì mà các con thích đi,” người đàn ông nhắc lại vài lần, chỉ nhằm xua tan sự căng thẳng kéo dài, nhưng cô ấy vẫn cố tình để ông ta sôi sục trong im lặng. Tôi di di ngón tay mình giữa các mép chiếc khăn ăn đã được gấp công phu.

“Có món nào mà các con không thích không?” ông ta hỏi.

“Không ạ,” chúng tôi gần như trả lời cùng lúc.

Ông ta gọi rất nhiều món, nói nhanh đến mức người phục vụ khó mà theo kịp. Rõ ràng là ông ta đã quá quen với việc ra lệnh. Các món ăn lần lượt được dọn ra và chúng tôi ăn nhanh chúng, trong phòng chỉ có tiếng nhai và nuốt của chúng tôi. Người đàn ông uống thêm ly nữa.

Ông ta lùn và chắc người, nhưng trông ông ta già hơn trên tivi. Tóc ông ta thưa và da cổ đã chảy xệ. Có mấy vết đồi mồi trên mặt và tay ông ta.

Tôi cho rằng quyền lực và chức vụ của ông ta sẽ khiến ông ta kiêu ngạo hơn hay trịch thượng hơn, nhưng con gái ông ấy đã hoàn toàn thành công trong việc khiến cho ông ta không thoải mái. Ông ta tìm các chủ đề nói chuyện và đã bị chưng hửng khi chẳng có gì thành công để có được sự đáp lại.

“Ở trường con thích học môn gì?” ông ta nói. Loại câu hỏi dành cho con nít, và tôi chợt nảy ra ý nghĩ các đề tài quan trọng hơn mà ông ấy có thể đã đề cập – hoàn cảnh của mẹ cô ấy, khó khăn về kinh tế, có lẽ là lời xin lỗi ông ấy nợ họ. Tôi bắt đầu lo lắng rằng có lẽ sự có mặt của tôi đang làm kì đà cản mũi, khiến cho mọi thứ trở nên phức tạp.

“Văn học cổ điển,” cô ấy nói, đặt dao, nĩa xuống và dùng khăn ăn lau miệng. “Và tiếng Anh… âm nhạc nữa. Tôi nghĩ môn yêu thích của tôi là âm nhạc.”
“Âm nhạc à? Thật tuyệt. Thế còn cháu?” ông ta hỏi tôi.

Tôi buột miệng nói “Sinh vật” vì chẳng biết nói gì hay hơn. Sinh vật, P.E – Cái quái gì thế? Chúng tôi chỉ nói chuyện để lấp đầy sự im lặng.

“Con có chơi thể thao không?”

“Không, không ạ.”

“À, họ thường bỏ nấm cục trong món súp này,” ông ta đột nhiên nói với một sự thích thú rõ ràng. “Con thích chúng không?”

“Tôi chưa bao giờ ăn chúng trước đây cả.”

“Chúng giống như là một loại hương vị ăn quen rồi thì thấy thích… Vậy con làm gì khi con không đi học?”

“Chơi với mèo, giặt quần áo, nghe nhạc – đại loại các thứ như thế.”

Người phục vụ dọn món cá lên. Người đàn ông đã gọi cá tráp biển với mù tạc; con gái ông ta là món sò điệp rắc bột và nướng với bơ, tôi thì tôm hùm hấp.

Cô ấy ăn rất ra dáng, lưng cô ấy thẳng, đầu gối đặt ngang nhau, bàn chân đặt ngay ngắn trên sàn nhà. Cô ấy giữ mắt mình trên đĩa thức ăn, và chỉ ngước nhìn khi trả lời câu hỏi mà cũng chỉ ngước lên hơi hơi thôi, như thể cô ấy đang nhìn vào điểm gần đĩa bơ đặt giữa bàn.

Tôi nhìn lướt qua cô ấy bất cứ khi nào tôi có cơ hội. Tóc cô ấy xõa xuống ôm mặt cô ấy rất xinh. Cô ấy có những nét đặc biệt dễ thương – cặp lông mày thông minh, quai hàm kiên định – nhưng khó mà đọc vị được cô ấy. Một mặt, cô ấy có thể khá khó khăn với ba mình, nhưng cùng lúc cô ấy lại là con người có vẻ có lỗi như thường lệ. Dường như cô ấy nghi ngờ rằng mình đáng được ăn các con sò điệp thơm ngon này, hay thậm chí có đáng được ở ngay tại nơi này vậy.

Món kế tiếp là món thịt, được dọn  ra một cách hoa mỹ với vài người phục vụ. Tôi thì đã no rồi, nhưng hai người bọn họ vẫn tiếp tục ăn rất ngon miệng, vì vậy tôi đành miễn cưỡng ăn thêm món nữa.

“Con có chơi loại nhạc cụ nào không?” ông ta hỏi. “Piano? Ghita? Hay vĩ cầm không?”

“Không,” cô ấy nói. “Tụi con không có loại nhạc cụ nào ở nhà cả.”

Ông ấy ho lên, rồi con dao ông ấy gõ mạnh xuống đĩa với tiếng lách cách chói tai. Cô ấy lắc đầu, xua xua ông ấy.

Bỗng nhiên tôi nhớ lại rằngmình đã từng nói chuyện với cô gái này trước đó, lúc đầu năm cấp ba. Tại sao tôi lại quên mất điều đó cho đến bây giờ nhỉ? Đó là sau khi các lớp đã tan học. Tôi đi ngang qua phòng nhạc, nhưng tôi ngừng lại, có cảm giác có ai đó bên trong. Khi tôi nhìn vào, cô ấy đang đứng trên đầu ngón chân, nhón người lên để mở cửa kính của giá đựng. Cô ấy chỉ một mình. Tôi không biết tại sao tôi lại đứng đó nhìn cô ấy. Tôi chắc hẳn đã tò mò. Hay có lẽ chính làn da trắng như tuyết ấy tôi đã thấy trên cổ tay cô ấy khi giơ tay lên. Nắp cái giá đựng kêu cọt kẹt và cô ấy hít sâu một hơi khi vươn tay vào bên trong hộp vĩ cầm. Cô ấy ngắm kĩ nó, gần như sợ hãi, và rồi ôm chặt cây đàn trong lòng. “Cậu đang làm gì thế?” tôi nói. Nhưng tôi không phá vỡ khoảnh khắc của cô ấy; tôi nên để cô ấy lại một mình với cây vĩ cầm. Cô ấy giật mình khi nghe tiếng tôi. “Chẳng làm gì cả,” cô ấy nói, “Tôi không làm gì cả,” và nhanh như cắt đặt cây vĩ cầm vào giá đựng. Một trong những sợi dây chạm vào cái nắp, và một âm thanh như tiếng khóc của con chim nhỏ vang lên khắp căn phòng.

Món tráng miệng dọn lên: bánh dâu tây phủ một lớp kem dày. Người đàn ông lấy cái khăn ăn bẩn ra và để nó lên bàn.

“Con có thể tự nhiên ăn món của ba nữa,” ông ta nói, đẩy cái đĩa về phía cô ấy.

Hình như một ngọn lửa băng giá xẹt qua bọn họ, và từ “ba” treo lơ lửng trong không trung. Tôi liếc nhìn cô ấy lần nữa và thấy cô ấy đang ngấu nghiến ăn cái bánh, môi dính đầy kem.

“Không, cảm ơn ông,” cô ấy nói.

***

Người đàn ông cố nài đưa chúng tôi về nhà bằng chiếc xe mui kín màu đen đắt tiền đậu ngay trước nhà hàng, nhưng cô ấy đã lịch sự từ chối. Chúng tôi bắt đầu cuốc bộ về nhà, nhưng khi chúng tôi đến tàu điện ngầm gần nhà hàng, cô ấy bước đều bên phải qua trước mặt chiếc xe và chúng tôi tiếp đi bộ về nhà hàng xóm chúng tôi. Cô ấy bước rất nhanh, cô ấy giữ chặt quai túi xách trên vai, mắt nhìn xuống lề đường, và co ấy không nói một từ nào suốt chặng đường.

Tôi e là cô ấy giận tôi mất rồi. Cô ấy rủ tôi theo, nhưng tôi chẳng làm được cái gì. Tôi đã ăn no bữa trưa của mình nhưng không làm gì để buổi gặp mặt với ba cô ấy được dễ dàng hơn. 

Tôi đã cố theo kịp cô ấy, nhưng không được quá gần, và tôi tìm gì đó để nói giúp cô ấy thoải mái hơn. Nhưng chẳng nghĩ ra điều gì cả.

Mặt trời bắt đầu lặn rồi, và bầu trời đã chuyển sang màu đỏ đậm. Mấy đứa trẻ đạp xe vượt qua chúng tôi, hướng về nhà từ công viên. Tiếng cười trên tivi đến từ căn nhà gần đấy. Tôi bắt gặp cái nhìn lướt qua của con mèo đi lạc, đuôi của nó vẫy nhẹ khi nó lao xuống một cái ngõ. Dù trời đã tối, nhưng tóc cô ấy vẫn lúc lắc xinh đẹp, và tôi có thể thấy cả tai cô ấy nữa, nhợt nhạt và trong suốt như làn da mà tôi đã nhìn lướt qua vào cái ngày ở phòng nhạc vậy. Chúng chẳng giống với người đàn ông ở nhà hàng. Tim tôi thắt lại. Có vẻ có quá nhiều thứ – thức ăn không quen, sự im lặng – khiến tôi cảm thấy không yên.

Cuối cùng, và cô ấy dừng lại mà chẳng hề báo trước, như trò chơi kết thúc khi nó đã kiệt sức vậy.

“Cảm ơn,” cô ấy nói, quay lại nhìn tôi. Giọng cô ấy khàn khàn, nghe có vẻ mệt lử rồi.

Chúng tôi ngồi xuống thềm của một tòa nhà cũ một lúc. Có một tiệm cắt tóc bên kia đường, và xa hơn là trường mẫu giáo. Một ngọn đồi nhỏ trồng nhiều cây ăn trái tràn cả ra bên cạnh các toàn nhà. Một chiếc mô-tô vượt qua, rồi vài người dắt chó đi bộ, nhưng chẳng có gì gây phiền tới chúng tôi.

“Chúng ta nghỉ chút đi,” tôi nói.

“Được,” cô ấy nói, vuốt cái váy của mình. Chất liệu vải mềm mại ấy lại khẽ chạm vào chân tôi. Mặt cô ấy lẫn trong ánh hoàng hôn. Mồ hôi chảy trên lưng khiến tôi cảm thấy lành lạnh.

“Mẹ của cậu ở đâu?” tôi hỏi.

“Bệnh viện Chuo.”

“Mình muốn đến thăm bà ấy,” tôi nói.

“Thực hả? Thế thì thật tuyệt. Mình chắc là mẹ sẽ rất vui đó. Mẹ cô đơn lắm.”

Một con kiến bò trên các thềm bê-tông cứng giữa đôi giày chúng tôi.

“Mẹ mình là nhân viên đánh máy,” cô ấy nói, ngước nhìn tôi. “Là một nhân viên giỏi. Mẹ đánh máy nhanh nhất và chính xác nhất ở cơ quan của mẹ. Mẹ có thể đánh bất cứ thứ gì – thư từ, báo cáo, biên bản cuộc họp. Thậm chí mẹ mình đã chiến thắng trong cuộc thi đó. Các ngón tay mẹ rất khéo, dài và rất linh hoạt.”

“Các ngón tay cậu cũng rất đẹp,” tôi nói, nhìn xuống bàn tay cô ấy đang đặt trên vạt váy.

“Lúc đầu mẹ tớ không định trở thành người đánh máy. Bà muốn chơi nhạc cụ – và tớ chắc là bà sẽ chơi rất giỏi.”

Giai điệu lạc lõng từ chiếc vĩ cầm trong phòng nhạc dường như đang vang lên bên tai tôi.

“Tòa nhà này từng là bưu điện,” cô ấy nói, âm thanh ấy như thể trong đầu tôi vậy. Cô ấy hất đầu về phía tòa nhà bên cạnh chúng tôi. “Trước đây cơ, lúc mẹ con tớ ở trong trường mẫu giáo đó.”

Một bảng hiệu gỉ sét treo lủng lẳng trên cửa, các chữ cái “bưu điện” chẳng còn dễ đọc nữa.

Cánh cửa đã được khóa lại bằng dây xích, nhưng chỉ khép hờ. Cô ấy ngó vào trong qua khe hở. “Nhìn này!” cô ấy gọi tôi, âm thanh vui vẻ hơn trong suốt buổi chiều này.

Tôi nghía mắt mình qua khe nứt, nhưng lúc đầu tôi chẳng nhìn gì trong ánh sáng lờ mờ. Rồi từ từ, khi mắt tôi đã quen với ánh sáng mờ mờ đó, bên trong tòa nhà hiện lên rõ hơn.

“Thật kì lạ…” tôi thì thầm. Tòa nhà chất đầy tới trần nhà các trụ nhỏ, những quả cầu tối màu, như các quả banh tennis.

“Quả kiwi,” cô ấy nói.

“Quả kiwi?” tôi nhắc lại.

“Chúng ta vào trong xem đi.”

“Nhưng mà nó khóa rồi.”

“Ai quan tâm chứ?” cô ấy nói, rồi cô ấy nhặt một cục đá lên và bắt đầu đập mạnh vào sợi xích. Sự bình tĩnh của cô ấy tiêu tan khi cô ấy đập dữ dội vào sợi xích hết lần này đến lần khác, cho đến khi cuối cùng thì nó cũng đứt ra và cánh cửa đung đưa mở ra. Chúng tôi bước vào bên trong toàn nhà.

Quả thực là, chúng là cây kiwi, cũng như loại bày bán ở các cửa hàng tạp hóa. Nhưng khung cảnh trước mắt chúng tôi kỳ cục và hoa cả mắt. Chúng tôi bước từ từ vào trong căn phòng, nơi chất đầy kệ sách, bàn và các hộp các-tông. Đồ chuốt bút chì, miếng thấm mực màu đỏ, và một cái đĩa cân bám đầy bụi đặt ở trên quầy tính tiền. Nhưng mà khoảng trống còn lại thì chất đầy kiwi,rất rất nhiều kiwi. Không khí phảng phất vị ngọt và chua. Cô ấy cúi xuống nhặt một quả lên. Tôi quan sát, sợ cô ấy có thể làm loạn cả chồng trái cây và khiến chúng đổ ập xuống tụi tôi.

Quả kiwi rất ngon, không có vết bầm dập hay hư ở đâu cả.

“Trông chúng ngon không?” cô ấy nói, nhìn chằm chằm vào núi trái cây. “Nhiều hơn mức cậu có thể ăn đấy!” Rồi cô ấy ngoạm một miếng vào quả trên tay cô ấy. Tôi có thể nghe tiếng răng cô ấy cắn vào quả đó.

Một lúc lâu, cô ấy đứng đó ăn quả kiwi, quả này đến quả khác. Cô ấy ngấu nghiến chúng như một đứa bé đói khát lắm vậy. Chiếc áo khoác được ủi cẩn thận và bàn tay xinh đẹp cô ấy trở nên nhớp nháp. Tôi chỉ có thể đứng nhìn và đợi đến khi cô ấy ăn cho thỏa nỗi buồn cô ấy mà thôi.

***

Khi cô ấy xuất hiện ở trường vào ngày thứ Hai, cô ấy lại lần nữa trở thành cô gái lặng lẽ mà tôi đã từng biết. Chúng tôi chẳng bao giờ nói chuyện với nhau sau ngày đó.

Mẹ cô ấy mất vào đầu kì nghỉ đông, và tôi đã không giữ lời hứa đến thăm cô ấy ở bệnh viện.

Thay vì tiếp tục vào đại học, cô ấy đi học một lớp nấu ăn chuyên về bánh nướng. Lần cuối cùng tôi gặp cô ấy là ngày tốt nghiệp. Khoảng hai mươi năm sau kể từ bữa trưa cùng với ba cô ấy. Ngày Chủ nhật đó – và khoảnh khắc trong căn phòng nhạc – đã chôn vào một góc những kỉ niệm của tôi.

Tôi có gọi điện thoại cho cô ấy một lần, tuy nhiên, đó là khoảng năm hay sáu năm sau, khi tôi tình cờ thấy một lời cáo phó của người đàn ông mà chúng tôi cùng ăn trưa ở nhà hàng Pháp. Tôi lấy số điện thoại của hiệu bánh nơi mà cô ấy đang làm việc trong sổ ghi danh cựu sinh viên.

“Tớ sợ là mình giúp ích nhiều cho cậu vào ngày đó,” tôi nói.

“Không đâu, cậu không biết là điều đó giúp tớ rất nhiều. Ý tớ là. Tớ thực sự rất biết ơn cậu. Lúc đó tớ… tớ…”

Cô ấy bắt đầu khóc bên kia điện thoại. Không phải vì người đàn ông đó đã chết. Tôi nhận ra rằng cô ấy cuối cùng cũng có thể khóc điều mà cô ấy đã không thể làm được khi ở tòa bưu điện, và nỗi buồn từ quá khức xa xưa này tới với cô ấy một cách yên bình.

“Tớ đã không cảm ơn cậu một cách chính thức sau ngày đó,” cô ấy nói. “Tớ xin lỗi cậu.”


Photo Credit: 50 a year